Báo khói Hochiki and phân loại đầu báo khói chuẩn nhất

  • hiep1902
  • 4 Tháng Mười Hai, 2017
  • TỔNG HỢP
  • Chức năng bình luận bị tắt ở Báo khói Hochiki and phân loại đầu báo khói chuẩn nhất

 Đầu báo khói Hochiki là 1 trong những dòng cảm biến báo cháy được rất nhiều người sử dụng tại việt nam, chiếm gần 50% tỷ lệ cảm biến báo cháy đang chạy trong các hệ thống PCCC.
Báo khói Hochiki đến với người dùng bằng chất lượng & giá thành đối đầu và cạnh tranh được bảo vệ bởi chính tên thương hiệu tới từ nhật bản. Báo khói Hochiki hoạt động với hiệu suất tối đa, không nhiều xảy ra lỗi, là 1 trong những thiết bị có tầm quan trong hàng đầu trong cảm biến sự cố, phát hiện đúng đắn, tỉ lệ báo cháy giả cực kỳ thấp so với rất nhiều tên thương hiệu khác.

==>> Tham khảo:   http://phongchaythanglong.vn/bao-chay-hochiki-2-1-123922.html

Đầu báo khói nói chung and báo khói Hochiki nói riêng, là các thiết bị dùng làm phát hiện khói, tín hiệu bắt đầu của sự cố cháy. Khi phát hiện đc khói, những đầu báo sẽ phát tín hiệu về trung tâm báo cháy, như 1 thông điệp là sắp có sự cố cháy xảy ra. một vài loại sử dụng cho gia đình thì có thể phát ra âm thanh báo động tại chỗ khi có cháy.

 

 


thiết bị báo cháy Hochiki – thiết bị báo cháy báo khói auto rất chất lượng

 

Xét về hình dáng:

Báo khói có hình dạng theo pháp luật của nhà phân phối, tuy nhiên thường đặt trong một vỏ nhựa hình đĩa có đư ờng kính khoảng 100 mm (4 inch) hoặc 150 mm (6 inch).

cũng như các laoij đầu báo khói khác, báo khói Hochiki cũng có thể có 2 loại 2 dây và 4 dây, được tính theo số dây 2 lõi hoặc 4 lõi nối với tủ trung tâm.

Báo khói 2 dây thường sử dụng nguồn DC24V, là đầu báo đc cấp nguồn & truyền tín hiệu bên trên cùng 1 đôi.

Báo khói 4 dây là đầu báo đc cấp nguồn riêng với đường tín hiệu.

Độ nhạy của đầu báo khói:

Độ nhạy của đầu báo khói được đo lường và tính toán tiêu chuẩn bởi Độ u ám (Obscuration – Obsc hay độ đục).

Độ u ám và mờ mịt là cảm giác mà khói làm giảm góc nhìn của của đầu dò. Độ u ám và mờ mịt càng lớn thì nồng độ hói càng nhiều.

 

 

nhấp chuột Hình ảnh để xem Bảng Giá đầu báo khói cháy Hochiki

 

Theo tiêu chuẩn thì độ nhạy của các loại đầu báo khói như sau:

Phân loại đầu báo khói Hochiki

1.1. Đầu báo khói ion hoá (Ionization detector):

Đầu báo khói ion hoá (còn gọi là báo khói ion) sử dụng một chất đồng vị phóng xạ như Americium 241 (nguồn phát hạt alpha – α) để tạo sự ion hoá trong không khí.

Đầu báo khói ion có độ nhạy cao trong giai đoạn cháy rực (khói không nhìn thấy) hơn so với đầu báo khói quang, trong khi đầu báo khói quang lại bắt gặp giỏi các đám cháy trong giai đoạn đầu âm ỉ.

Buồng thu khói (smoke chamber) hay còn gọi là buồng ion hoá (ionization chamber) có kết cấu quan trọng đặc biệt để bụi & côn trùng khó lọt vào đc, nhưng khói có thể đơn giản và dễ dàng đi vào

Trong buồng thu khói có một lượng bé dại chất phóng xạ Americium 241 và 2 điện cực (hình 1.1). Chất phóng xạ sản sinh ra những ion mang điện trong không gian. Một điện thế đc đặt giữa 2 điện cực tạo cho các ion di chuyển về các điện cực khác dấu tạo thành một dòng điện trong mạch của đầu báo.

Nếu có một số trong những phần tử của khói chui vào buồng ion hoá, những ion sẽ kết hợp với những thành phần khói làm giảm dòng điện giữa 2 điện cực. Một mạnh bắt gặp sự suy giảm dòng đi ện and phát tín hiệu báo động. Ở trạng thái báo động, đèn LED bên trên đầu báo sẽ sáng đồng thời tín hiệu sẽ được chuyển về trung tâm báo cháy.

Đầu báo ion có giá cả chế tạo giá tốt hơn so với đầu báo khói quang, nhưng rất dễ khiến ra hiện tượng báo giả, nó chỉ phù hợp với đám cháy có những hạt khói quá nhỏ bé (khói không nhìn thấy được).

1.2. Đầu báo khói quang điện (Photoelectric Smoke Detector):

Đầu báo khói quang điện hay có cách gọi khác là   centrally manage thiết bị báo cháy hochiki – Phòng cháy Thăng Long  đầu báo khói quang bao gồm 1 nguồn sáng nhỏ tuổi (LED phát hồng ngoại), một thấu kính hội tụ ánh sáng thành chùm tia and một cảm biến quang điện (photoelectric hoặc photodiode) đặt lệch góc với chùm tia hồng ngoại.

Tất cả những thành phần trên đây đc đặt trong một buồng quang học (optical chamber) hay còn gọi là buồng khói. Hình 1.2 diễn tả cấu tạo cơ bản của đầu báo khói quang.

Buồng quang học (1) có cấu tạo đặc biệt quan trọng để ánh sáng bên ngòai không hề lọt vào được, nhưng khói hoàn toàn có thể dễ dàng đi vào. bên ngoài của buồng quang học có một lớp lưới để ngăn bụi and côn trùng chui vào phía bên trong.

Trong tình huống thông thường (không có khói), chùm tia sáng được tạo nên từ đèn

phát hồng ngoại (5) đi theo đường thẳng không đến được đầu cảm biến quang (4).

Khi có khói vào phía bên trong buồng quang học ngang qua đường đi của chùm tia hồng ngoại, một vài tia sáng bị khuyếch tán bởi những hạt khói đi đến đầu cảm ứng quang (4) and kích hoạt báo động. Khi đó, mạch điện sẽ chuyển tín hiệu hồng ngọai (quang) thành tín hiệu điện (báo động). Ở trạng thái báo động, đèn LED trên đầu báo sẽ sáng đồng thời tín hiệu sẽ được truyền về tủ báo cháy.

Đầu báo khói quang phát hiện giỏi đám cháy âm ỉ. Đầu báo khói quang phản ứng chậm hơn đầu báo ion với đám cháy bùng phát nhanh, nhưng thử nghiệm và nghiên cứu cho thấy đầu báo khói quang phục vụ được tất cả các loại cháy and có tuổi thọ cao hơn.

thời nay, một trong những đầu báo khói quang tân tiến có độ nhạy rất to lớn, bao trùm phạm vi của đầu báo khói ion & hoàn toàn có thể sửa chữa trọn vẹn cho đầu báo ion. ví dụ đầu báo khói của Hochiki có độ nhạy từ 0.5-3.8%/ft, trong những lúc độ nhạy chuẩn mức của đầu báo ion là 0.8–1.5% obs/ft và của đầu báo quang là 2–4% obs/ft.

so sánh giữa đầu báo khói quang và báo ion

Đầu báo quang điện đáp ứng nhanh hơn (thường là 30 phút hoặc hơn) trong giai đoạn âm ỉ trước khi thành ngọn lửa. Khói trong giai đoạn âm ỉ thường tạo thành những hạt đốt lớn giữa 0.3 và 10 micron.

Đầu báo ion hoá đáp ứng nhanh hơn (thường là 30-60 giây) trong giai đoạn lửa tỏa nắng (rực lửa). Khói trong giai đoạn rực lửa thường tạo ra những hạt đốt bé dại – giữa 0.01 and 0.3 micron.

Ngoài ra đầu báo ion hoá hoạt động yếu trong môi trường có luồng gió mạnh, & vì đi ều này đầu báo quang điện là tin tưởng hơn để bắt gặp khói ngay cả 2 tình huống cháy âm ỉ & cháy rực lửa.

Tháng 6/2006, Australasian Fire and Emergency Service Authorities Council, cơ quan đại diện thay mặt cao nhất cho các tổ chức cứu hoả Australia and New Zealand tuyên bố: “báo khói ion hóa không còn sinh hoạt trong time để cảnh báo đủ sớm cho tất cả những người cư ngụ thoát khỏi đám cháy âm ỉ”

Đầu ion phát hiện tốt đám cháy không tồn tại khói (khói không nhìn thấy được)

Sự hiện diện của chất phóng xạ Americium-241 trong đầu báo ion hoá, có nghĩa rằng tất cả các đầu báo khi hết thời hạn hoạt hoạt động và sinh hoạt phải đc giải quyết để ngăn cản tạo ra mối gian nguy so với môi trường thiên nhiên. một trong những nước đã cấm sử dụng đầu báo khói ion.

Đầu báo khói quang dễ dàng trong công việc sửa chữa thay thế gia hạn, đ ầu báo ion có chất phóng xạ nên không hề mở buồng ion để lau chùi, thay thế được.

Đầu ion sẽ báo gỉa nếu được lắp đặt tại nơi có luồng khí mạnh thổi qua.

Đầu báo khói quang có tuổi thọ cao hơn đầu báo khói ion.

1.3. Đầu báo khói quang dạng tia (Projected Beam Detector)

những đầu báo như diễn đạt ở phần trên gọi là đầu báo khói điểm (spot detector).

Với Khu Vực bảo đảm an toàn có diện tích S lớn, trần cao nơi mà đầu báo khói điểm khó lắp đặt and bảo trì, ví dụ như phòng t ập thể dục, giảng đường sẽ dùng đầu báo khói quang dạng tia (đầu báo beam). Có 2 loại đầu báo khói tia: loại thu – phát and loại phản xạ.

Đầu báo khói tia loại thu – phát: bao gồm 1 đầu phát (T) and một đầu thu (R) hồng ngoại cá biệt lắp đối diện với nhau trong khoanh vùng cần đảm bảo an toàn.

Đầu báo khói tia loại phản xạ: bao gồm 1 đầu báo phối hợp bộ phận phát & thành phần thu trong cùng một vỏ and tấm phản xạ lắp đối diện với đầu báo trong Quanh Vùng cần bảo vệ.

Chiều dài bảo đảm của đầu beam là khoảng cách giữa đầu thu & đầu phát, hoặc giữa đầu báo & tấm phản xạ.

Đầu báo beam hoạt động dựa trên nguyên tắc làm mờ ánh sáng (light obscuration). Ở ĐK môi trường thiên nhiên sạch, không tồn tại khói, chùm tia hồng ngoại từ đầu phát (Transmiter) sẽ đến bộ phận cảm nhận ánh sáng đặt tại đầu thu (Reveiver) với một cường độ 100%. điều đó đc hiểu là độ làm mờ 0%, nói một những khác tất cả tia hồng ngoại đến đc đầu thu.

Đầu báo beam được điều chỉnh độ nhạy theo mức đc cấu hình thiết lập sẵn, tính theo phần trăm Phần Trăm của độ che mờ hoàn toàn chùm tia chứ Chưa hẳn theo Phần Trăm hiện diện (nồng độ) của khói. Mức độ nhạy này, đc định vị bởi hãng sản xuất, tùy thuộc vào chiều dài đảm bảo an toàn của đầu báo. Ví dụ: Khi đặt đầu báo có độ nhạy 25%, Tức là khi 25% tín hiệu của tia bị làm mờ bởi khói, đầu báo sẽ chuyển qua thực trạng báo động.

Khi có cháy, khói từ đám cháy bay lên đi vào khoanh vùng đảm bảo, cắt ngang đường hồng ngoại của đầu báo sẽ làm suy giảm tín hiệu hồng ngọai tới đầu thu. Khi độ làm mờ đạt tới mức ngưỡng báo động được đặt trước, đầu báo sẽ phát một tín hiệu báo động cháy.

Nếu đầu thu hoàn toàn không nhận được tia hồng ngọai (đầu phát bị hư, hoặc đứt dây, hoặc tia hồng ngọai bị che khuất 100%,…) đầu báo sẽ phát tín hiệu báo lỗi (trouble) để ngăn cản báo giả.

 

Sự chuyển đổi chậm của độ che mờ xảy ra, do bẩn hoặc bụi bên trên thấu kính của đầu báo, sẽ được bù trừ bởi một mạch vi tinh chỉnh và điều khiển với tác dụng giám sát tiếp tục cường độ tín hiệu & định kỳ hiệu chỉnh ngưỡng báo động & báo lỗi. Khi mạch tự bù trừ của đầu báo đạt đến ngưỡng giới hạn của nó, đầu báo sẽ phát tín hiệu báo lỗi, dấu hiệu nhu cầu dịch vụ gia hạn.

 

khoảng cách bảo vệ của đầu beam từ vài mét đến 100 mét (hoặc nhiều hơn thế, tuỳ thuộc vào nhà sản xuất), do vậy đầu báo dạng beam rất phù hợp để đảm bảo ở những nơi có diện tích lớn, tầm nhìn không biến thành che khuất.

 

Theo NFPA72, đầu báo beam có thể bảo vệ một diện tích S có chiều dài tối đa 100 m (330 ft) và khoảng cách theo chiều ngang (với tia hồng ngoại ở giữa) tối đa 18 m (60 ft), tương đồng 1,800 m2 (19,800 sqft), trong khi đầu khói điểm có diện tích S bảo vệ cao nhất 83m2 (900 sqft).

 

Theo BS5839 part 1: Đầu khói điểm có đường kính đảm bảo an toàn tối đa 7.5 m, khoảng cách tối đa giữa 2 đầu báo là 10.5 m tương đồng diện tích S 110.25m2. Đầu báo beam cho phép bảo vệ một diện tích có chiều dài tối đa 100 m and chiều ngang (với tia hồng ngoại ở giữa) cao nhất 15m, tương đương diện tích đảm bảo 1,500 m2.

1.4. Đầu báo khói lắp bên trên đường ống – Duct smoke detector

 

Đầu báo Duct hỗ trợ khả năng bắt gặp sớm khói and sản phẩm cháy có trong không khí dịch chuyển theo đường ống của khối hệ thống HVAC (HVAC là chữ viết tắt tiếng Anh của: H = Heating – hệ thống sưởi ấm; V = Ventilation – hệ thống thông gió; AC = Air Conditioning – khối hệ thống điều hòa không khí).

Có 2 ống nhỏ tuổi đc lắp nhô vào bên trong đường ống của khối hệ thống HVAC, một ống có các lỗ khoan theo chiều dọc lắp ngược hướng dòng khí vận động để thu không khí đưa vào đầu báo Duct đc gọi là ống lấy mẫu (Sampling Tube), một ống còn sót lại đưa không khí ra khỏi đầu báo (Exhaust Tube).

 

Một đầu báo khói lắp phía bên trong đầu duct có nghĩa vụ phát hiện khói and phát tín hiệu báo động về trung tâm báo cháy hoặc thông qua các relay tinh chỉnh và điều khiển những lá chắn (Damper) của khối hệ thống HVAC hoặc các thiết bị khác.

1.5. Đầu báo khói độ nhạy cao – Aspirating Smoke Detector hoặc Air Sampling Detechtor (ASD)

Đầu báo khói độ nhạy cao – ASD hay có cách gọi khác là VESDA dùng cho các Quanh Vùng cần thiết đòi hỏi báo cháy có độ nhạy không hề nhỏ, nơi mà nguồn lửa rất khó phát hiện, nhu cầu chỉ một lượng khói rất mỏng tanh phải được bắt gặp ngay.

Một hệ thống ASD gồm 1 thiết bị dò khói trung tâm có tác dụng cuốn hút không gian bằng máy hút khí và một mạng ống nhỏ tuổi lắp trong khu vực cần bảo đảm an toàn. các lỗ mẫu (Sampling Point) đc khoan vào mỗi ống trong theo khoảng cách tương thích. không gian tiếp nối thường xuyên bị hút vào hệ thống đường ống thông qua các lỗ, nhắm đến thiết bị dò trung tâm để nghiên cứu và check.

Khác với những đầu báo khói thông thường là dòng thụ động, khối hệ thống ASD phân tích không gian trong thời gian thực & thuộc loại chủ động. thi công của ASD được cho phép thu thập mẫu không gian / khói thông qua hệ thống đường ống và dẫn về bộ cảm ứng trung tâm.

Độ nhạy cao cùng với chủ động thu thập mẫu khói chất nhận được phát hiện cháy ở giai đoạn rất sớm. điều này cực kỳ quan trọng giữa những tình huống môi trường có ngóc ngách làm loãng khói and che khuất bao quanh.

Nguồn: Tổng hợp trên mạng